Menu

Sài Gòn quê tôi

22:08 04/07/2016

pno
Sài Gòn - TP.HCM quê tôi, hồi nào tới giờ, vẫn sôi động mà bình dị, dung nạp sự đa dạng, có khi hỗn độn, nhưng luôn rạch ròi phải quấy, đúng sai, giữa đường thấy chuyện bất bình là ra tay hay lên tiếng.
Sai Gon que toi

Tôi sanh ra ở Sài Gòn, vì vậy, coi Sài Gòn là quê mình. Đi du học, một hôm bỗng mấy bác lớn tuổi cắc cớ hỏi đám sinh viên quê ở đâu. Trả lời: “Dạ, con quê Sài Gòn”. Mấy bác cười ồ: “Quê gì mà quê Sài Gòn? Ông bà, cha mẹ cháu sanh ra ở đâu? Phải có nơi chôn nhau cắt rún chớ!”. Tôi ngơ ngác: “Nếu vậy, quê cha con ở Ba Tri, má ở Mỏ Cày”. Mọi người hể hả: “À, nó là dân Bến Tre”. Tôi ấm ức, mình sanh ra ở Sài Gòn, thì “chôn nhau cắt rún” ở Sài Gòn chớ đâu. Mà hình như khái niệm “chôn nhau cắt rún” không có nghĩa với người Sài Gòn. Chúng tôi, cả đám bạn bè cùng học tiểu học, rồi sau đó là trung học, nói đủ thứ tiếng Bắc, Trung, Nam, bãi trường về quê nội, quê ngoại ở nhiều tỉnh khác nhau, đều cảm thấy mình là người Sài Gòn vì rất nhiều thứ khác, không liên quan gì tới chuyện “chôn nhau cắt rún”.

Sài Gòn là những tháng năm tuổi nhỏ, với bộ đồng phục bà ba vải trắng đi học tiểu học. Áo của tôi, má hà tiện gởi may từ dưới quê Ba Tri, cắt không khéo bằng mấy đứa bạn may áo ở Sài Gòn, nhưng chẳng ai để ý. Cả đám bốn, năm đứa học trò xếp nhau ngồi chật một chiếc xích lô đi học, ngày nào cũng đi ngang chợ Vườn Chuối, ngang đường Nguyễn Thiện Thuật lúc ấy còn đầy xác chuột chết người ta vứt ra đường, xe cán dẹp lép nhìn thấy ghê. Là cái tuổi ăn tuổi lớn, nữ không hề “ăn như mèo ngửi”, mà ngoài khúc bánh mì cá hay gói xôi ăn sáng, còn thèm thuồng từng mẩu bánh mì không gặm thêm vào giờ ra chơi, từng cây cà lem, từng ly “đá nhận”, chỉ là đá bào xịt xi-rô màu xanh, đỏ. Nói gì đến chén chè khuya, trái bắp nướng hay đủ thứ “ăn hàng” khác vào bất cứ giờ nào trong ngày.

Sài Gòn - TP.HCM bây giờ vẫn vậy. Con tôi, sau mấy năm du học, về nhà chỉ thèm tô canh rau, mỗi ngày một thứ, nào dưa hường, bồ ngót, rau dền, mùng tơi, bông so đũa. Cũng không ngạc nhiên khi con dâu người Hà Nội cứ mỗi lần về là hăm hở đi ăn cơm tấm, bánh mì thịt Sài Gòn, chưa kể trái cây đủ loại. Sài Gòn - TP.HCM luôn sẵn cơ hội nếm trải đặc sản từ mọi miền đất nước, ẩm thực từ mọi quốc gia, ngon nhứt chưa chắc ở khách sạn đắt tiền mà có khi ở quán mì vịt tiềm đầu ngõ, cửa hàng sushi trong chung cư. Quan trọng hình như không chỉ ở chỗ thành phố lớn “muốn gì cũng có”, mà ở sự cởi mở, ủng hộ người từ mọi miền về đây tìm kế mưu sinh, ở lối sống bao dung, thỏa mãn rất nhiều yêu cầu, sở thích khác nhau. Và ở cả cái thú thưởng thức cuộc sống, từ miếng ăn ngon đến nụ cười hiền, lời mời xởi lởi.

Sai Gon que toi
Tác giả Bùi Trân Phượng

Đi xa, tôi thỉnh thoảng gặp lại Sài Gòn đột ngột đến sững sờ. Một vị giáo sư Pháp chuyên gia tầm cỡ thế giới về Việt Nam, về Nam bộ, có bữa vui miệng kể: “Má tôi cứ nói tôi là thằng “đầu gà đít vịt”, bà có mặc cảm gì đâu, dân Sài Gòn mà”. Ông nói tiếng Pháp, tất nhiên, nhưng đầu gà đít vịt” tiếng Việt phát âm rất chuẩn. Tôi đâu dám khen, là “tiếng mẹ đẻ” của ông mà.

Một nhà nghiên cứu đưa tôi đi thăm trại Cafi ở miền Nam nước Pháp, nơi sinh sống suốt nhiều thập niên của những phụ nữ có con với lính Pháp, lính lê dương hay viên chức Pháp ở Việt Nam thời thuộc địa, bị tập trung tới đây cùng những đứa con của họ sau năm 1954. Tôi gặp nhiều người Việt các thế hệ, phần lớn người cao tuổi không nói tiếng Pháp, tất cả người trung niên và trẻ đều không nói tiếng Việt, nhưng họ sống chan hòa, ấm áp ở đó trong bối cảnh không khác Việt Nam là mấy, với giàn bầu, bí trước hiên nhà, bụi tre ngoài bờ rào, và cả buổi lên đồng của một phụ nữ quê gốc Bắc đã từng về Sài Gòn cầu học bà thầy để nối nghiệp tổ tông.

Tôi chào một bà da đen cao tuổi nghe giới thiệu là nói tiếng Việt: “Dì quê ở đâu?”. Bà cười móm mém: “Tui người Sài Gòn”. Thì ra bà từ Ấn Độ qua Sài Gòn phụ bán trong tiệm vải - của mấy ông hồi xưa gọi là Bảy Chà. Bà lấy lính Tây, rồi suốt hơn nửa đời người sống ở Cafi vẫn đau đáu nhớ “Sài Gòn mình”.

Sài Gòn - TP.HCM quê tôi, bây giờ, có các sinh viên người Thái, Nhật, Pháp, Bỉ, Phần Lan, Hoa Kỳ, Hồng Kông, Singapore… đang cùng học tập, đàn hát, cùng đi chăm sóc người khiếm thị ở thành phố, đi xây thư viện cho thiếu nhi vùng sâu với sinh viên người Việt ở trường đại học Hoa Sen, các bạn trẻ này cũng từ mọi miền đất nước về làm “sinh viên Sài Gòn” tại Hoa Sen.

Sài Gòn - TP.HCM quê tôi, bây giờ, bên cạnh nhiều cặp vợ chồng trẻ mới ra riêng, những Ôsin nói đủ thứ giọng vùng, miền, còn có những bạn hàng xóm người Hàn, người Phi, người Anh, người Mỹ cùng sống trong một chung cư vùng ven, gặp nhau mỗi ngày trong chợ Phước Long - một cái chợ quê ở Nhà Bè xưa, đã dời về đây từ ngày xây dựng chung cư, nơi quần tụ dân tứ xứ - cùng ăn tô phở Việt và hưởng thú ngồi cà phê những sáng cuối tuần thư thả.

Sài Gòn - TP.HCM quê tôi, hồi nào tới giờ, vẫn sôi động mà bình dị, dung nạp sự đa dạng, có khi hỗn độn, nhưng luôn rạch ròi phải quấy, đúng sai, giữa đường thấy chuyện bất bình là ra tay hay lên tiếng. Có điều, không được nói suông, “chém gió” ở đây, người ta cười, người ta khinh nữa. Sài Gòn quê tôi là nơi ở thì vui, đi thì nhớ, song có thể gặp lại ở nhiều nơi, như một thứ “căn cước”, bản sắc mà người ta tự hào về nó, nhưng cũng sẵn sàng chia sẻ nó cho bất cứ người cơ nhỡ, khó khăn, cho bất cứ tấm lòng chân thật nào tìm tới nó.

Bây giờ, bỗng dưng nghe nói nhiều về kỳ vọng “khôi phục” hòn ngọc Viễn Đông. Người Sài Gòn thích danh xưng hòn ngọc Viễn Đông lắm chứ. Nhưng chúng tôi hiểu ngọc đó không phải ở hào nhoáng người đông phố lớn, những tòa nhà chọc trời hay những dòng tiền tuôn chảy không phân biệt đục trong, dơ sạch. Ngọc Viễn Đông, giữ được hay không, còn hay mất, là ở con người, người Sài Gòn, mà không nhất thiết phải “chôn nhau cắt rún” ở đây.

Bùi Trân Phượng

Chị Trần Thị Bé Bảy (Cửa hàng trưởng, Tổng Công ty Việt Thắng): Sự "cởi kowr" để "tiếp nhận và phát triển", TP. HCM là số một

Sai Gon que toi

Tôi sinh ra trong một gia đình lao động có 10 anh chị em tại TP.HCM. Năm 1976, 17 tuổi, tôi vào Công ty Dệt Việt Thắng làm công nhân. Đến năm 1983, trong Hội thi thợ giỏi toàn thành phố, tôi đạt danh hiệu “Bàn tay vàng”. Đến năm 1985, công ty chuyển tôi sang làm cán bộ kỹ thuật của một nhà máy với nhiệm vụ giúp rèn luyện tay nghề cho thợ trẻ. Vài năm sau, do hoàn cảnh - chồng mất, một mình nuôi hai con nhỏ ba tuổi và sá u tháng tuổi, nên công ty chuyển tôi sang công tác kinh doanh để có thời gian chăm sóc gia đình. Dù làm ở vị trí nào tôi cũng chăm chút cho công việc được tốt nhất, nhờ vậy cửa hàng do tôi phụ trách luôn đạt doanh thu cao.

Công việc thuận lợi cũng giúp tôi có cơ hội đi nhiều nơi trong và ngoài nước như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Hồng Kông, Séc, Nga, Ấn Độ. Nhưng tôi cảm nhận không nơi nào hiền hòa, thân thiện và dễ thương như thành phố của mình. Dù còn chuyện này, chuyện khác, nhưng từ công việc của mình rồi nhìn rộng ra, tôi thấy, về sự “cởi mở” để “tiếp nhận và phát triển” thì TP.HCM là số một. Bất kỳ ai, cứ có tinh thần học hỏi, cầu tiến, thì không sợ không có cơ hội phát triển.

Thầy Trần Tuấn Anh (Trường THCS Bạch Đằng, Q.3): Tôi Đang mang một món nợ ân tình

Sai Gon que toi

Tôi thi đậu vào ĐH Kinh tế, nhưng khi vào học, nhận thấy ngành này không phù hợp nên quay sang học ngành sư phạm. Tại trường CĐ Sư phạm, tôi không phải đóng học phí mà còn được học bổng. Đến kỳ thực tập, tôi và một nhóm giáo sinh về thực tập tại trường THCS Colette (Q.3). Một cô giáo ở đây phát hiện tôi là chàng bán vé số từng đi qua nhà cô, nên tìm cách giúp đỡ.

Năm 2007, tôi ra trường và về dạy tại trường THCS Bạch Đằng (Q.3) thì bất ngờ được Công ty Dệt Thái Tuấn tặng cho một xe gắn máy. Rồi báo chí viết về tôi - một thầy giáo dạy giáo dục công dân cảm động. Sau bài báo, nhiều người đã gọi điện chia sẻ. Nhiều phụ huynh trên đường mưu sinh đã ghé qua trường gửi tặng tôi tấm thiệp mà tôi không hề biết họ là ai. Cũng sau bài báo, nhiều trường học tại TP.HCM mời tôi đến nói chuyện cho học sinh và cả phụ huynh cùng nghe. Tôi bất đắc dĩ trở thành “diễn giả”. Kể ra điều này không phải để khoe mà để thấy rằng tôi đang mang một món nợ ân tình đối với nhiều người, đặc biệt là người dân thành phố, và tâm niệm rằng mình phải sống cho tốt, dạy học sao cho tốt và chia sẻ với mọi người nhiều hơn.

Nhà văn Đặng Nguyễn Đông Y: Sài Gòn - TP.HCM giống một kim tự tháp

Sai Gon que toi

Đôi khi tôi vẫn tự hỏi, mối tơ duyên giữa tôi và Sài Gòn bắt đầu từ khi nào?

Từ lần đầu tiên tôi theo ba mẹ vô Sài Gòn ăn tết với gia đình bên nội, hay từ thuở ba tôi còn là một thiếu niên thường xuyên trốn học đi xem phim ở rạp Văn Cầm, Phú Nhuận. Hay xa xăm hơn nữa, từ năm 1941, khi chàng trai trẻ - là ông nội tôi - lặn lội từ Quảng Bình vô Sài Gòn làm cậu chạy việc cho các bà phước ở dòng tu kín sau nhà Bưu điện thành phố, ít lâu sau lại trở thành anh bồi của một gia đình người Pháp trên đường Catinat với mức lương 40 đồng bạc Đông Dương?

Dù thế nào, tôi với Sài Gòn hẳn đã có duyên, trước khi tôi về làm dâu một gia đình miền Nam lâu đời. Nhưng có một điều lạ lùng, đó là càng ngày tôi lại càng cảm thấy mình không phải là “người Sài Gòn”. Đó là cảm giác hơi khó lý giải, bởi đối với tôi, khái niệm “người Sài Gòn” không hề được đóng trong một cái khung nhỏ hẹp nào. Không cần bạn phải sinh ra ở Sài Gòn, chỉ cần bạn cảm thấy mình là người Sài Gòn thì bạn chính là người Sài Gòn. Thế thôi!

Đất Sài Gòn - TP.HCM ưa chuộng những con người đàng hoàng và có nghĩa khí. Có nghĩa khí là sống làm sao để những người mà mình xem trọng không coi thường mình. Có nghĩa khí là dám nói dám làm. Dám làm dám chịu. Càng hiểu sâu về một Sài Gòn - TP.HCM không nằm trên bề mặt của những bảng tên đường hay nhà hàng quán xá, tôi càng thấy Sài Gòn - TP.HCM giống một kim tự tháp. Nếu đứng từ xa bạn chỉ nhìn thấy cái chóp nhọn, phần cao nhất nhưng có diện tích nhỏ nhất. Chỉ khi đến thật gần, thậm chí bước vào bên trong, bạn mới nhận ra phần chân đế của nó rộng lớn chừng nào.

Giống như phần chìm của một tảng băng, chính cuộc sống lặng lẽ trong dân gian lại chứa đựng cái chất Sài Gòn đậm đặc nhất.